GIỚI THIỆU

Khoa Ung Bướu BVND 115 được thành lập và chính thức đưa vào hoạt động từ đầu năm 2011 và đã đạt được nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu, chẩn đoán và điều trị các mặt bênh ung thư. Trung tâm được trang bị 1 máy xạ phẫu Gamma knife, 2 máy xạ trị gia tốc, cùng nhiều thiết bị hỗ trợ chẩn đoán hình ảnh và hỗ trợ điều trị ung thư khác.

DỊCH VỤ

-“Điều trị bệnh u não với công nghệ hiện đại và hiệu quả nhất thế giới – Hệ thống Gamma knife” Hệ thống Gamma quay là một thiết bị phẫu thuật u não bằng tia Gamma, với bộ thiết bị thiết bị định vị 3 chiều tích hợp, máy Gamma knife cho phép xác định chính xác vị trí các tổn thương trong não, giúp việc xạ phẫu đạt hiệu quả cao hơn. Phẫu thuật bằng tia Gamma được chỉ định thay thế hoặc phối hợp với các phương pháp phẫu thuật thần kinh sọ não.

Chúng thường biết đên ung thư vú ở phụ nữ tuy nhiên trên thực tế ung thư vú cũng có thể bắt gặp ở nam giới. Nếu phát hiện một cục ở dưới núm vú, hãy đi khám để tìm ra nguyên nhân sớm nhất. Đàn ông mắc bệnh ung thư vú nguy hiểm hơn rất nhiều so với phụ nữ.

Vắt sữa để tích trữ là thói quen cần thiết của rất nhiều bà mẹ khi không có điều kiện ở gần và cho con bú. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách sử dụng và bảo quản sữa đúng cách.

Những người có máu nóng, nhiệt miệng, hay nổi mụn nhọt, những người bệnh tiểu đường… là những đối tượng tuyệt đối không nên ăn nhiều vải thiều.

TP.HCM là đại diện duy nhất nằm ngoài hai nền kinh tế Ấn Độ và Trung Quốc lọt top đô thị tăng trưởng nhanh nhất Châu Á. Không những vậy, TP.HCM xếp ở vị trí thứ 4, sau Delhi, Chennai và Mumbai.

Gần 1000 công nhân của Công ty Asia Garment Manufacturer đã phải di tải khỏi nơi làm việc để tránh khí độc.

Ngày 13/6/2014, Quốc Hội khóa XIII đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Luật sửa đổi bổ sung có nhiều điểm mới nổi bật như sau...

Các nhà khoa học đã lấy mẫu khí thở của hàng trăm bệnh nhân để phân tích hợp chất hóa học, giúp phát hiện nguy cơ tiềm ẩn của bệnh ung thư dạ dày. Cảnh giác ung thư dạ dày khi bị rối loạn tiêu hóa / 7 tác nhân gây bệnh ung thư có thể tránh được

Những dấu hiệu và triệu chứng  

Triệu chứng của ung thư buồng trứng không đặc hiệu và giống với nhiều bệnh thông thường khác, bao gồm những rối loạn về đường tiêu hoá và bàng quang. Không hiếm những phụ nữ mắc ung thư buồng trứng được chẩn đoán là bệnh khác trước khi có kết luận cuối cùng bị ung thư buồng trứng. Vấn đề chìa khoá là những dấu hiệu và triệu chứng này kéo dài hoặc xấu dần đi. Với hầu hết các rối loạn đường tiêu hoá, những triệu chứng có xu hướng bị đi bị lại, hoặc chúng thường xảy ra ở những tình trạng nhất định hoặc sau khi ăn những thức ăn nhất định. Với ung thư buồng trứng, có ít sự thay đổi bất thường đặc trưng- những triệu chứng hằng định và xấu đi một cách từ từ.
Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng phụ nữ mắc ung thư buồng trứng có nhiều khả năng biểu hiện các triệu chứng dưới đây hơn những người phụ nữ khác:
*    Bụng căng, đầy và to lên
*    Phải đi tiểu khẩn cấp
*    Đau hoặc khó chịu trong khung chậu
Những dấu hiệu hoặc triệu chứng kèm theo mà ung thư buồng trứng có thể biểu hiện bao gồm:
*    Khó tiêu, đầy hơi hoặc buồn nôn kéo dài
*    Những thay đổi không thể giải thích được trong thói quen đại tiện, bao gồm ỉa chảy hoặc táo bón.
*    Những thay đổi trong thói quen tiểu tiện, bao gồm cần đi tiểu thường xuyên
*    Chán ăn
*    Tăng hoặc giảm cân không giải thích được
*    Vòng bụng tăng lên hoặc quần áo chật quanh vùng eo
*    Đau trong suốt quá trình giao hợp
*    Mệt mỏi kéo dài
*    Đau lưng phần thấp
Các bác sĩ thường có thể chẩn đoán ung thư buồng trứng trong vòng 3 tháng kể từ khi người phụ nữ có triệu chứng đầu tiên, nhưng đôi khi có thể mất đến 6 tháng hoặc lâu hơn nữa.

Nguyên nhân

U buồng trứng là sự phát triển của các tế bào bất thường mà có thể là lành tính hoặc ác tính. Mặc dù u lành tính được tạo ra từ các tế bào bất thường, những tế bào này không di căn tới các phần khác của cơ thể. Tế bào ung thư buồng trứng di căn theo một trong 2 cách. Thông thường, chúng xâm lấn trực tiếp các mô hoặc cơ quan xung quanh trong khung chậu và ổ bụng. Hiếm hơn, chúng đi theo dòng máu hoặc bạch huyết tới các phần khác của cơ thể.
Những nguyên nhân của ung thư buồng trứng vẫn chưa được biết đến. Một vài nhà nghiên cứu tin rằng phải có điều gì với quá trình sửa chữa mô theo sau quá trình giải phóng trứng hàng tháng qua một lỗ nhỏ trong nang buồng trứng (sự rụng trứng) trong suốt thời kỳ hoạt động sinh dục của người phụ nữ. Sự hình thành và phân chia của các tế bào mới ở những vị trí “đứt g*y” có thể có thể tạo ra tình trạng trong đó những lỗi di truyền xảy ra. Những giả thuyết khác cho rằng sự tăng nồng độ hormon trước và trong thời kỳ rụng trứng có thể kích thích sự phát triển của các tế bào bất thường.
Ba loại ung thư buồng trứng tồn tại, được xác định bởi vị trí chúng hình thành trong buồng trứng. Bao gồm:
U biểu mô. Khoảng 85-90% ung thư buồng trứng phát triển trong biểu mô, vỏ ngoài mỏng bao phủ buồng trứng. Dạng ung thư buồng trứng này thường xảy ra ở phụ nữ tiền m*n kinh.
U tế bào mầm. Những u này thường xảy ra ở tế bào sản xuất trứng của buồng trứng và thường xảy ra ở phụ nữ trẻ.
U sinh dục. Những u này phát triển trong mô cùng sản xuất estrogen và progesteron.

Những yếu tố nguy cơ

Nhiều yếu tố có thể tăng nguy cơ mắc ung thư buồng trứng của bạn. Có một hoặc nhiều hơn các yếu tố nguy cơ này không có nghĩa bạn chắc chắn mắc ung thư buồng trứng, nhưng nguy cơ của bạn cao hơn những người phụ nữ khác. Những yếu tố nguy cơ bao gồm:

Sự thay đổi về gen di truyền.
Yếu tố nguy cơ đặc trưng nhất của ung thư buồng trứng là có sự thay đổi về di truyền của 1 hoặc 2 gen được gọi là gen ung thư vú 1 (BRCA1) và gen ung thư vú 2 (BRCA2). Những gen này ban đầu được xác định ở những gia đình có nhiều trường hợp mắc ung thư vú, đó là lý do chúng được đặt tên như thế), nhưng chúng cũng có mặt ở 5-10% ung thư buồng trứng. Bạn có nguy cơ đặc biệt cao mang những biến đổi di truyền này nếu bạn là dòng dõi Ashkenazi Jewish. Bệnh di truyền khác được biết đến có liên quan đó là hội chứng ung thư đại trực tràng di truyền không đa polyp (HNPCC). Những cá thể trong gia đình HNPCC tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung, đại tràng, buồng trứng, dạ dày, ruột non. Nguy cơ ung thư buồng trứng liên quan đến HNPCC thấp hơn ung thư buồng trứng liên quan đến sự biến đổi BRCA.

Tiền sử gia đình.
Đôi khi, ung thư buồng trứng xảy ra ở nhiều hơn một thành viên trong một gia đình nhưng nó không là kết quả của bất kỳ biến đổi gen di truyền nào được biết đến. Có tiền sử gia đình có người mắc ung thư buồng trứng tăng nguy cơ mắc bệnh của bạn, nhưng không cùng mức độ như khi mang những khiếm khuyết về gen di truyền. Nếu bạn có người thân thế hệ thứ nhất - mẹ, con gái hoặc chị em gái - mắc ung thư buồng trứng, nguy cơ của bạn phát triển bệnh là 5% trong suốt cuộc đời.
Tuổi.
Ung thư buồng trứng thường gặp nhất ở phụ nữ sau m*n kinh. Nguy cơ mắc ung thư buồng trứng của bạn tăng lên theo tuổi sau tuổi 70. Hầu hết ung thư buồng trứng được chẩn đoán ở phụ nữ đ* m*n kinh, bệnh cũng xảy ra ở phụ nữ tiền m*n kinh.
Thời kỳ mang thai.
Phụ nữ có ít nhất một lần mang thai có nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng thấp hơn. Tương tự, việc dùng thuốc uống tránh thai có một vài tác dụng bảo vệ chống lại ung thư buồng trứng.
Mất khả năng sinh sản. Nếu bạn có vấn đề khó khăn trong việc thụ thai, bạn có thể tăng nguy cơ. Mặc dù sự liên quan được biết đến ít, những nghiên cứu chỉ ra rằng mất khả năng sinh sản tăng nguy cơ mắc ung thư buồng trứng, thậm chí không sử dụng thuốc sinh sản. Nguy cơ xuất hiện cao nhất ở phụ nữ mất khả năng sinh sản không rõ lý do và ở phụ nữ mất khả năng sinh sản mà chưa bao giờ thụ tinh. Nghiên cứu trong lĩnh vực này vẫn đang được tiến hành.
Nang buồng trứng. Sự hình thành nang là một phần bình thường của quá trình rụng trứng ở phụ nữ chưa m*n kinh. Tuy nhiên, nang hình thành sau khi m*n kinh có nhiều khả năng trở thành ung thư hơn. Khả năng ung thư tăng lên cùng với kích thước khối u và tuổi.
Điều trị hormon thay thế. Những nghiên cứu về khả năng liên quan giữa việc dùng hormon estrogen và progestin ở phụ nữ đ* m*n kinh và nguy cơ ung thư buồng trứng vẫn còn gây tranh c*i. Một vài nghiên cứu chỉ ra có tăng nhẹ nguy cơ ung thư buồng trứng ở phụ nữ dùng estrogen sau m*n kinh, nhưng những nghiên cứu khác chỉ ra rằng không có tăng nguy cơ đáng kể. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu lớn đăng trên tạp chí ung thư quốc gia Mỹ vào tháng 11 năm 2006, các nhà nghiên cứu thông báo rằng phụ nữ không cắt tử cung và điều trị hormon m*n kinh trong 5 năm hoặc hơn đối mặt với nguy cơ đáng kể của ung thư buồng trứng.
Béo phì ở tuổi trẻ. Những nghiên cứu gợi ý rằng phụ nữ béo phì ở tuổi 18 tăng nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng trước khi m*n kinh. Béo phì cũng có thể liên quan đến ung thư buồng trứng tiến triển, điều này có thể dẫn đến bệnh tái phát trong thời gian ngắn hơn và giảm tỷ lệ sống thêm toàn bộ.

Khi nào cần lời khuyên của bác sĩ

Đến gặp bác sĩ của bạn nếu bạn thấy sưng, căng, tức hoặc đau trong bụng hoặc khung chậu kéo dài. Nếu bạn đ* gặp bác sĩ và nhận được chẩn đoán khác không phải ung thư buồng trứng, nhưng bạn không đỡ sau khi điều trị, h*y đến khám lại.
Nếu bạn có tiền sử ung thư buồng trứng trong gia đình, h*y đến gặp bác sĩ được đào tạo để xác định và chăm sóc bệnh nhân ung thư buồng trứng để bạn có thể nói về sàng lọc và cơ hội điều trị khi bạn không có bệnh.
Nếu bác sĩ chăm sóc ban đầu của bạn nghi ngờ bạn mắc ung thư buồng trứng, bác sĩ có thể giới thiệu bạn đến một chuyên gia ung thư phụ khoa, hoặc bạn có thể đề đạt ý kiến của riêng bạn. Bác sĩ ung thư phụ khoa là một bác sĩ sản khoa và phụ khoa được đào tạo thêm về chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng và các loại ung thư phụ khoa khác.
Sàng lọc và chẩn đoán
Sàng lọc ung thư có nghĩa rằng bạn không có triệu chứng của bệnh, và xét nghiệm được thực hiện với khả năng xác định bệnh ở giai đoạn sớm, có thể chữa khỏi. Để đạt được hiệu quả, xét nghiệm sàng lọc phải có thể xác định chắc chắn sự biểu hiện bệnh ở giai đoạn sớm, không có nhiều kết quả dương tính giả (nghĩa là xét nghiệm gợi ý rằng ung thư hiện có trong khi thực tế không có ung thư). Xét nghiệm sàng lọc hiệu quả có sẵn cho nhiều loại ung thư thông thường, bao gồm: phim chụp vú cho ung thư vú, xét nghiệm tế bào học âm đạo cho ung thư cổ tử cung, soi đại tràng cho ung thư đại tràng, và xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) và thăm trực tràng cho ung thư tuyến tiền liệt.
Tuy nhiên, không có xét nghiệm chuẩn nào để xác định chắc chắn ung thư buồng trứng. Các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra phương pháp sàng lọc nào đủ nhạy để xác định ung thư buồng trứng giai đoạn sớm và đủ đặc hiệu để phân biệt ung thư buồng trứng với các tình trạng bệnh lành tính khác. Thông thường, các bác sĩ không đề nghị xét nghiệm thường quy cho phụ nữ có nguy cơ trung bình ung thư buồng trứng.
Với những phụ nữ có nguy cơ cao, nhà chuyên môn không biết chính xác làm gì để sàng lọc, làm khi nào hoặc có nên làm tất cả các xét nghiệm không. Nếu bạn có nguy cơ cao ung thư buồng trứng, bạn nên hỏi kỹ bác sĩ của bạn về nguy cơ và lợi ích của việc làm các xét nghiệm sàng lọc. Khi bạn có thể băn khoăn rằng xét nghiệm sàng lọc gây hại gì, h*y nhớ rằng những xét nghiệm sàng lọc này có thể dẫn đến những cuộc phẫu thuật không cần thiết hoặc các quá trình khác có những tác dụng phụ đặc trưng. Trong một nghiên cứu ở phụ nữ có nguy cơ cao ung thư buồng trứng, các nhà nghiên cứu khám phá ra rằng sử dụng xét nghiệm sàng lọc dẫn đến 20 ca mổ ở phụ nữ, chỉ một nguời được tìm thấy có ung thư- là ung thư vú di căn, không phải ung thư buồng trứng.
Chẩn đoán
Nếu bác sĩ của bạn nghi ngờ những triệu chứng gợi ý của ung thư buồng trứng, bác sĩ có thể đề nghị một hoặc nhiều xét nghiệm dưới đây:
Khám vùng tiểu khung. Bác sĩ khám âm đạo, tử cung, trực tràng và tiểu khung, bao gồm buồng trứng, để tìm khối u. Nếu bạn cắt tử cung nhưng còn buồng trứng, cần tiếp tục đi khám tiểu khung định kỳ.
Siêu âm.
Siêu âm dùng những sóng âm thanh tần số cao để tạo ra những hình ảnh bên trong cơ thể. Siêu âm vùng tiểu khung là cách đánh giá an toàn, không xâm nhập (không xâm phạm cơ thể) để đánh giá kích thước, hình dạng, cấu trúc của buồng trứng. Tuy nhiên, nếu tìm thấy một khối, siêu âm không phân biệt được khối đó là ung thư hay không. Siêu âm cũng có thể xác định dịch trong khoang bụng (cổ trướng), một dấu hiệu có thể của ung thư buồng trứng. Bởi vì cổ trướng gặp ở nhiều tình trạng khác hơn ung thư buồng trứng, sự hiện diện của nó bắt buộc cần làm nhiều xét nghiệm hơn.

Xét nghiệm CA 125 trong máu.
CA 125 là một protein của cơ thể có mặt trong máu do phản ứng với nhiều tình trạng bệnh khác nhau. CA là từ viết tắt của hai từ tiếng anh có nghĩa là kháng nguyên ung thư. Nhiều phụ nữ ung thư buồng trứng có nồng độ CA 125 cao bất thường trong máu. Tuy nhiên, một số tình trạng không ung thư cũng tăng nồng độ CA 125 và nhiều phụ nữ ung thư buồng trứng giai đoạn sớm có nồng độ CA 125 bình thường. Vì thiếu tính đặc hiệu, xét nghiệm CA 125 không được dùng sàng lọc thường quy cho phụ nữ có nguy cơ trung bình và lợi ích không rõ ràng ở phụ nữ nguy cơ cao.
Những xét nghiệm chẩn đoán khác bao gồm chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hạt nhân, cả hai đều cung cấp những hình ảnh cắt ngang, chi tiết các phần trong cơ thể. Bác sĩ của bạn cũng có thể yêu cầu chụp X quang phổi để xác định liệu ung thư đ* di căn đến phổi hoặc đến khoang màng phổi bao quanh phổi hay chưa, ở đó có thể có dịch. Nếu có dịch, có thể đưa kim vào trong khoang màng phổi để lấy dịch. Dịch sau đó được kiểm tra trong phòng thí nghiệm tìm tế bào ung thư.
Nếu những xét nghiệm này gợi ý ung thư buồng trứng, bạn sẽ cần mổ để xác định chẩn đoán. Trong quá trình phẫu thuật mở bụng, bác sĩ ung thư phụ khoa sẽ rạch một đường rạch trên bụng và quan sát ổ bụng để xác định liệu có ung thư không. Phẫu thuật viên có thể lấy mẫu dịch ổ bụng hoặc cắt bỏ buồng trứng để kiểm tra bằng xét nghiệm giải phẫu bệnh.
Trong những trường hợp nhất định, có thể thực hiện phẫu thuật ít xâm nhập hơn được gọi là nội soi. Nội soi chỉ đòi hỏi 2 đường rạch nhỏ, qua đó đèn được đưa vào, cùng với những dụng cụ nhỏ để tiến hành phẫu thuật. Nội soi có thể được dùng nếu phẫu thuật viên muốn cắt bỏ khối mô để xác định ung thư trước khi phẫu thuật xâm nhập hơn.
Nếu ung thư buồng trứng được xác định, phẫu thuật viên và bác sĩ giải phẫu bệnh xác định loại u và xem liệu ung thư đ* di căn chưa. Điều này sẽ giúp xác định giai đoạn bệnh. Sau đó, các phẫu thuật viên thường sẽ cần mở rộng đường rạch để họ có thể tiến hành phẫu thuật rộng r*i hơn, cắt bỏ được càng nhiều ung thư càng tốt. Điều quan trọng là loại phẫu thuật này cần được thực hiện bởi bác sĩ được đào tạo chuyên về điều trị ung thư phụ khoa.
Trước khi bạn được phẫu thuật chẩn đoán, h*y nói hỏi bác sĩ của bạn về khả năng điều trị của bạn sẽ là gì nếu bạn có khối lành tính bất thường ở buồng trứng. Nếu bạn gần m*n kinh hoặc đ* m*n kinh, bác sĩ của bạn có thể đề nghị cắt bỏ cả hai buồng trứng để làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng của bạn.
Giai đoạn của ung thư buồng trứng
Ung thư buồng trứng về cơ bản được chia thành 4 giai đoạn, giai đoạn I là giai đoạn sớm nhất, giai đoạn IV là giai đoạn tiến triển muộn nhất. Giai đoạn được xác định tại thời điểm phẫu thuật chẩn đoán bệnh:
Giai đoạn I. Ung thư buồng trứng khu trú ở một hoặc 2 bên buồng trứng.
Giai đoạn II. Ung thư buồng trứng di căn tới những khu vực khác trong khung chậu như tử cung hoặc vòi trứng.
Giai đoạn III. Ung thư buồng trứng di căn tới màng bụng hoặc hạch bạch huyết trong ổ bụng. Đây là giai đoạn phổ biến nhất của bệnh được xác định ở thời điểm chẩn đoán.
Giai đoạn IV. Ung thư buồng trứng di căn tới các cơ quan ngoài ổ bụng.
Điều trị
Điều trị ung thư buồng trứng thường bao gồm sự kết hợp của phẫu thuật và hoá chất.
Phẫu thuật
Nếu bạn muốn giữ khả năng có con và nếu khối u của bạn được phát hiện sớm, phẫu thuật viên có thể chỉ cắt bỏ buồng trứng và vòi trứng bên có u. Tuy nhiên, tình huống này hiếm gặp, và điều trị hoá chất sau đó có thể gây ra vô sinh. Nhưng nhiều phụ nữ trong tình huống này vẫn tiếp tục mang thai thành công sau điều trị.
Phần lớn những phụ nữ trưởng thành bị ung thư buồng trứng cần được phẫu thuật rộng r*i bao gồm cắt bỏ buồng trứng, vòi trứng, tử cung cũng như hạch bạch huyết lân cận và nếp mô mỡ ổ bụng được gọi là mạc nối, nơi ung thư buồng trứng thường lan tới.
Trong suốt quá trình này, phẫu thuật viên cắt bỏ được càng nhiều ung thư trong bụng càng tốt (phẫu thuật công phá u tối đa). Một phẫu thuật được coi là lý tưởng nếu sau phẫu thuật khối u trong ổ bụng có thể tích còn dưới 1 cm3 (công phá u tối ưu). Điều này có thể gồm cắt bỏ một phần ruột non của bạn.
Hoá chất
Sau phẫu thuật, bạn sẽ được điều trị hoá chất - những thuốc dùng để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại. Điều trị ban đầu ung thư buồng trứng là sự kết hợp của carboplatin (Paraplatin) và paclitaxel (Taxol) được đưa vào dòng máu (truyền tĩnh mạch). Những thử nghiệm lâm sàng lớn đ* chứng minh rằng sự kết hợp này là hiệu quả nhất, những nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm cách cải thiện nó. Sự kết hợp carboplatin - paclitaxel giảm kích thước u ở 80% phụ nữ ung thư buồng trứng được chẩn đoán mới. Những nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kết quả kết hợp này kéo dài thời gian sống thêm, so sánh với những thuốc và sự kết hợp hoá chất trước đó.
Điều trị nhạy cảm hơn gần đây được chỉ ra cải thiện thời gian sống ở phụ nữ ung thư buồng trứng tiến triển bằng cách kết hợp điều trị hoá chất đường tĩnh mạch chuẩn với hoá chất được bơm trực tiếp vào ổ bụng qua một ống thông được đặt khi phẫu thuật ban đầu. Sự truyền thuốc vào ổ bụng này giúp tế bào ung thư khó tiếp cận nhận được hoá chất liều cao hơn truyền tình mạch thông thường.
Điều trị cơ bản này gồm 6 đợt cả hoá chất đường tĩnh mạch và vào ổ bụng. Những tác dụng phụ- bao gồm đau bụng, buồn nôn, nôn và nhiễm khuẩn - có thể làm cho nhiều phụ nữ không có khả năng hoàn thành quá trình điều trị đầy đủ hoặc những người khác từ bỏ điều trị. Tuy nhiên, thậm chí một quá trình điều trị không đầy đủ có thể giúp phụ nữ sống lâu hơn.
Những điều trị khác cũng đang được nghiên cứu bao gồm những thuốc hoá chất mới, văc-xin, điều trị gen và miễn dịch, giúp tăng cường hệ miễn dịch của bản thân bệnh nhân chống lại bệnh ung thư. Khám phá về gen bị biến đổi trong ung thư buồng trứng cũng có thể dẫn đến sự phát triển những thuốc đặc hiệu với chức năng đích của những gen này.
Phòng bệnh
Nhiều yếu tố xuất hiện làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng, trong đó có thuốc uống tránh thai. So sánh với những phụ nữ không bao giờ dùng chúng, phụ nữ dùng thuốc uống tránh thai trong 3 năm hoặc hơn nữa giảm nguy cơ ung thư buồng trứng của họ tới 30-50%.
Mang thai và cho con bú. Có con ít nhất một lần giảm nguy cơ ung thư buồng trứng. Cho con bú trong một năm hoặc lâu hơn cũng làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng.
Thắt ống dẫn trứng hoặc cắt tử cung. Một nghiên cứu lớn (The Nurses'''' Health Study) theo dõi hàng nghìn phụ nữ trong 20 năm đ* thấy có sự giảm đáng kể nguy cơ ung thư buồng trứng ở phụ nữ đ* thắt ống dẫn trứng. Quá trình này cũng cho thấy có sự giảm nguy cơ ung thư buồng trứng trong nhóm phụ nữ có biến đổi về gen BRCA1. Quá trình giảm nguy cơ như thế nào thì chưa được biết rõ. Nghiên cưu này cũng chỉ ra rằng cắt tử cung làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng, nhưng không bằng thắt ống dẫn trứng.
Phụ nữ có nguy cơ rất cao phát triển ung thư buồng trứng có thể lựa chọn cắt bỏ buồng trứng như một cách phòng bệnh. Phẫu thuật này, được biết đến là cắt buồng trứng phòng bệnh, được đề nghị đầu tiên cho phụ nữ có xét nghiệm biến đổi gen BRCA1 dương tính hoặc phụ nữ có tiền sử gia đình mắc ung thư buồng trứng hoặc vú, thậm chí nếu không có biến đổi.
Những nghiên cứu chỉ ra rằng cắt buồng trứng phòng bệnh giảm nguy cơ ung thư buồng trứng tới 95% và giảm nguy cơ ung thư vú tới 50%, nếu buồng trứng được cắt bỏ trước khi m*n kinh. Cắt buồng trứng phòng bệnh giảm nhưng không loại bỏ hoàn toàn nguy cơ ung thư buồng trứng. Vì ung thư buồng trứng thường phát triển ở lớp lót mỏng của ổ bụng bao quanh buồng trứng, phụ nữ đ* cắt bỏ buồng trứng vẫn có thể mắc loại ung thư tương tự nhưng ít phổ biến hơn gọi là ung thư màng bụng nguyên phát.
Cắt buồng trứng phòng bệnh còn gây nhiều tranh c*i bởi vì nó gây ra m*n kinh sớm, có  thể có những tác động tiêu cực đến sức khoẻ của bạn, bao gồm tăng nguy cơ lo*ng xương, bệnh tim và các tình trạng khác. Nếu bạn đang xem xét thực hiện quá trình này, cần hỏi kỹ bác sĩ về lợi ích và tác hại của phương pháp.
Tự chăm sóc
Ăn tốt, tránh những căng thẳng là cách kích thích toàn bộ sức khoẻ của bạn và đương đầu với bất kỳ loại ung thư nào.
Ăn tốt
Chế độ dinh dưỡng tốt đặc biệt quan trọng với người đang điều trị ung thư. Nhưng ăn tốt có thể gặp khó khăn trong thời gian điều trị hoá chất hoặc tia xạ. Bạn có thể cảm thấy buồn nôn hoặc chán ăn, và thức ăn có thể có vị nhạt hoặc không ưa thích. Bạn có thể thấy rằng điều cuối cùng bạn muốn làm là chuẩn bị tốt những bữa ăn.
Thậm chí, ăn tốt trong suốt quá trình điều trị ung thư có thể giúp bạn duy trì sức chịu đựng và khả năng chống đỡ với tác dụng phụ của điều trị. Chế độ dinh dưỡng tốt cũng có thể giúp bạn phòng ngừa nhiễm khuẩn và vẫn hoạt động tốt.
H*y nhớ những chiến lược này trong ăn tốt khi bạn cảm thấy không khoẻ:
Ăn thức ăn giàu protein. Thức ăn nhiều protein có thể giúp xây dựng và sửa chữa những mô trong cơ thể. Những lựa chọn bao gồm trứng, sữa chua, pho-mát làm từ sữa đ* loại kem, bơ lạc, thịt gia cầm và cá. Đậu hình bầu dục, đậu xanh, đậu Hà Lan mắt đen cũng là những nguồn giàu protein, đặc biệt khi kết hợp với gạo, ngô hoặc bánh mỳ.
Luôn suy nghĩ mở rộng những loại thức ăn mà bạn có thể ăn. Một vài thứ không ngon ngày hôm nay nhưng sẽ ngon hơn với bạn vào tuần tới.
Khi bạn cảm thấy khoẻ, hãy ăn nhiều nhất. Ăn càng nhiều thức ăn tốt mà bạn có thể. Chuẩn bị những bữa ăn mà bạn có thể làm lạnh hoặc hâm nóng dễ dàng. Cũng tìm kiếm những bữa ăn trưa hoặc những thức ăn đ* chuẩn bị khác đông lạnh ít.


Nguồn: Internet

Ung thư tuyến tuỵ (UTTT) xảy ra khi tế bào ung thư phát triển trong chủ mô của tuyến tuỵ. Tuỵ là một tuyến nằm phía sau dạ dày và phía trước cột sống. Tuỵ sản xuất ra dịch tiêu hoá và các hormon điều hoà lượng đường huyết trong máu. Tế bào của tuỵ ngoại tiết sản xuất ra dịch tiêu hoá thức ăn, còn tế bào của tuỵ nội tiết sản xuất insulin và một số hormones khác. Đa số các trường hợp ung thư tuyến tuỵ (UTTT) đều khởi phát từ những tế bào của tuỵ ngoại tiết.

Triệu chứng của Ung thư tuyến tuỵ

Các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng của UTTT bao gồm:

- Vàng da, vàng kết mạc mắt

- Đau vùng thượng vị, hoặc đau giữa bụng và sau lưng

- Sụt cân không tìm được nguyên nhân

- Chán ăn

- Mệt mỏi

- Trầm cảm

Các yếu tố nguy cơ gây Ung thư tuyến tuỵ bao gồm:

- Hút thuốc lá

- Uống rượu nhiều

- Viêm tuỵ mãn

- Viêm tuỵ gia đình

- Các hội chứng ung thư tuyến tuỵ gia đình

- Đái tháo đường lâu năm


Chẩn đoán ung thư tuyến tuỵ

Thông thường các bác sĩ sẽ hỏi về tiền sử bệnh, khám lâm sàng và chỉ định làm một số xét nghiệm để xác định nguyên nhân bệnh lý và kiểm tra độ lan rộng của khối u như

- Chụp cắt lớp bụng bằng MSCT64 ( Máy CT 64 lát cắt)

- Chụp cộng hưởng từ (MRI)

- Siêu âm qua nội soi (EUS)

- Nội soi ổ bụng chẩn đoán

- Nội soi chụp mật tuỵ ngược dòng (Endoscopic retrograde cholangiopancreatography =ERCP)

- Chụp đường mật xuyên gan qua da (Percutaneous transhepatic cholangiography =PTC; để kiểm tra gan và đường mật bằng XQuang)

- Sinh thiết (lấy mẫu mô xem dưới kính hiển vi tìm tế bào ung thư)

Điều trị Ung thư tuyến tuỵ như thế nào ?

Có nhiều cách thức để điều trị ung thư tuyến tuỵ bao gồm:

- Phẫu thuật cắt bỏ một phần hay toàn bộ tuyến tuỵ.

- Hoá trị liệu và xạ trị.

Hoá trị liệu dùng thuốc hoá chất để diệt tế bào trong khối u. xạ trị dùng tia XQuang hoặc các tia phóng xạ khác để tiêu diệt tế bào ác tính. Phẫu thuật được dùng để cắt bỏ khối u hoặc điều trị các triệu chứng của UTTT.

Tiên lượng của bệnh nhân ung thư tuỵ

Tiên lượng của bệnh nhân ung thư tuỵ dù đã được tích cực điều trị bằng các phương pháp hiện đại nhưng vẫn còn rất kém. Theo báo cáo của Hiệp Hội Ung Thư Hoa Kỳ, tỉ lệ bệnh nhân ung thư tuỵ ngoại tiết sống sót sau chẩn đoán 1 năm chỉ khoảng 23% và sau chẩn đoán 5 năm, chỉ còn 4% bệnh nhân sống sót .

Nếu bạn phát hiện thấy có khối nhạt màu trong miệng không thể chữa khỏi được và không giống như bất kỳ biến đổi nào bạn đã gặp trước đó, bạn có thể đang có những dấu hiệu sớm của ung thư miệng hoặc họng.

Ung thư miệng bao gồm ung thư của môi, miệng, lưỡi, lợi và tuyến nước bọt. Ung thư họng gồm ung thư phần họng phía sau miệng.
Tự khám định kỳ miệng của bạn là cách tốt nhất để xác định các dấu hiệu sớm của ung thư miệng và họng. Khi xác định được bệnh ở giai đoạn sớm, ung thư miệng thường được điều trị thành công. Thật không may, nhiều ung thư miệng và họng đã tiến triển xa khi bác sĩ phát hiện được bệnh. Điều này là do ung thư miệng thường không đau trong giai đoạn sớm hoặc có những triệu chứng không quan trọng, tương tự như các vấn đề sức khoẻ khác như là đau răng.
Những dấu hiệu và triệu chứng
Biểu hiện sớm của ung thư miệng và họng là một hoặc nhiều thay đổi mô mềm trong miệng về hình ảnh và cảm giác. Những dấu hiệu và triệu chứng có thể gồm:
•    Vết loét trong miệng không liền hoặc tăng lên về kích thước
•    Đau kéo dài trong miệng
•    Những khối hoặc mảng trắng, đỏ hoặc đen bên trong miệng
•    Má dầy lên
•    Khó nhai, nuốt hoặc cử động lưỡi
•    Khó cử động hàm hoặc sưng hoặc đau ở hàm
•    Rất đau trong hoặc cảm thấy có cái gì vướng trong họng
•    Đau quanh răng hoặc lung lay răng
•    Tê lưỡi hoặc bất kỳ vị trí nào trong miệng
•    Thay đổi giọng nói
•    Có khối ở cổ
•    Hơi thở hôi
Hầu hết ung thư miệng phát triển ở môi, lưỡi hoặc sàn miệng. Chúng cũng có thể phát triển bên trong má, lợi hoặc vòm miệng.
Nguyên nhân
Ung thư miệng và họng xuất hiện như là kết quả của tổn thương ADN trong tế bào ở miệng và họng. Hút thuốc lá và uống quá nhiều rượu có thể làm tổn thương những mô này. Sự kết hợp của hút hoặc nhai thuốc lá và uống quá mức tạo nguy cơ cao của ung thư miệng và họng. Sự phơi nhiễm quá mức với tia cực tím có thể gây tổn thương. Tổn thương tế bào có thể làm cho chúng thay đổi chức năng và biến đổi thành tế bào ung thư.
Những yếu tố nguy cơ
Có nhiều yếu tố mà bạn có thể kiểm soát việc tăng nguy cơ ung thư miệng. Bao gồm:
•    Sử dụng thuốc lá. Thuốc lá có thể gây tổn thương tế bào bề mặt của khoang miệng và phần trên của họng. Những người hút thuốc có khả năng phát triển ung thư miệng và phần họng trên nhiều hơn những người không hút thuốc. Khoảng 90% những người mắc ung thư này sử dụng một vài loại thuốc lá. Thuốc lá được dùng phổ biến ở nam, vì vậy ung thư miệng thường phổ biến ở nam hơn nữ. Những ngươì dùng thuốc lá không khói hoặc nhai thuốc lá có nguy cơ tương đương mắc ung thư má và mặt trong môi. Ngoài ung thư miệng và họng, dùng thuốc lá không khói có thể gây ra các vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng khác, bao gồm các loại ung thư khác, bệnh về lợi và bệnh tim mạch.
•    Uống rượu quá nhiều. Rượu cũng có thể làm tổn thương tế bào bên trong miệng và phần trên họng. Xấp xỉ 3/4 số người ung thư miệng và họng trên thường uống rượu. Sự kết hợp rượu và thuốc lá làm tăng đáng kể nguy cơ ung thư của bạn.
•    Sự kích thích kéo dài của răng giả. Sự kích thích gây ra do răng giả bản thân nó không làm xuất hiện các nguy cơ của ung thư miệng. Tuy nhiên, sự gắn kết lỏng lẻo của răng giả có thể làm mắc kẹt các mảnh nhỏ thuốc lá và rượu, và sự phơi nhiễm lâu dài với những yếu tố nguy cơ được biết đến này có thể làm tăng nguy cơ ung thư miệng.
•    Phơi nhiễm lâu dài với tia cực tím. Tiếp xúc quá nhiều với tia cực tím có thể tổn thương tế bào ở môi và tăng nguy cơ ung thư môi. Khoảng 1/3 người mắc ung thư môi làm công việc ở ngoài trời trong một thời gian dài.
•    Những mảng trắng trên lưỡi hoặc bên trong má (bạch sản). Hầu như bạch sản người già là không nghiêm trọng. Tuy nhiên, bạch sản có thể trở thành nghiêm trọng vì một vài mảng có thể là dấu hiệu sớm của ung thư, và nhiều ung thư của miệng xảy ra ở khu vực gần bạch sản. Bạch sản có thể là kết quả của nhiều nguyên nhân, bao gồm hút hoặc nhai các sản phẩm của thuốc lá hoặc răng giả gắn lỏng.
•    Những mảng đỏ trong miệng (hồng sản). Hồng sản có nhiều khả năng phát triển thành ung thư hơn bạch sản. Hầu hết những trường hợp này cuối cùng được chẩn đoán là ung thư. Những vùng này thường dễ chảy máu khi chà xát.
•    Vi-rút gây u nhú ở người (HPV). HPV là một nhóm vi-rút lây truyền theo đường tình dục, có liên quan đến hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung. Gần đây, HPV được tìm thấy là một yếu tố trong khoảng 1/5 ung thư miệng.
Khi nào cần đi khám bệnh
Hãy đến gặp bác sĩ nếu bạn:
•    Thấy vết loét trong miệng không liền
•    Có khối hoặc những mảng trắng, đỏ hoặc đen trong miệng
•    Cảm thấy đau kéo dài hoặc mất cảm giác bên trong miệng
•    Chảy máu trong miệng lặp lại nhiều lần
•    Có bất kỳ sự thay đổi nào khi quan sát hoặc thay đổi cảm giác của mô mềm tromg miệng
Bất kỳ những yếu tố nào nêu trên có thể là biểu hiện của ung thư miệng. Nếu bạn có bất kỳ những dấu hiệu hoặc triệu chứng này kéo dài trên 2 tuần, hãy đến gặp bác sĩ của bạn. Bạn có những lời khuyên của bác sĩ càng sớm thì cơ hội điều trị thành công của bạn càng cao.
Sàng lọc và chẩn đoán
Để chẩn đoán, ban đầu bác sĩ nha khoa hoặc bác sĩ chuyên khoa hỏi về lịch sử của những dấu hiệu và triệu chứng và bác sĩ tiến hành kiểm tra miệng của bạn. Để xác định những vùng xuất hiện bất thường trong miệng của bạn là ung thư, bác sĩ cần lấy một mẫu mô nhỏ (sinh thiết) để kiểm tra trong phòng thí nghiệm.
Hầu như tất cả ung thư miệng và họng là loại tế bào vảy (ung thư tế bào vảy hoặc ung thư biểu mô). Tế bào vảy là tế bào dẹt và sừng hoá, chúng hình thành ở bề mặt của khoang miệng và họng trên cũng như ở bề mặt của da. Ung thư tế bào vảy bắt đầu với những tế bào bất thường chỉ khu trú trên bề mặt. Khi nó tiến triển, tế bào ác tính xâm lấn xuống mô sâu hơn trong khoang miệng và họng trên và có thể di căn tới hạch bạch huyết cũng như các phần khác của cơ thể.
Bác sĩ sẽ xác định liệu ung thư miệng và họng đã di căn chưa và nó di căn xa như thế nào, bạn sẽ cần trải qua các quá trình chẩn đoán hình ảnh bao gồm:
•    Chụp X-quang. Bác sĩ của bạn có thể muốn xem phim X-quang răng cũng như phim X-quang của đầu và ngực.
•    Chụp cắt lớp vi tính (CT) hoặc chụp cộng hưởng từ hạt nhân (MRI). Chụp cắt lớp vi tính cho phép bác sĩ quan sát các cơ quan trong những lát cắt 2 chiều. Trong một phần giây, quá trình xử lý trong máy tính tạo ra những hình ảnh khi một loạt các tia X rất yếu đi xuyên qua cơ thể. Chụp cộng hưởng từ hạt nhân không dùng tia X. Để thay thế, một máy tính tạo ra những hình ảnh lát cắt mô từ dữ liệu tạo ra bởi từ trường mạnh và sóng vô tuyến. Những hình ảnh này có thể quan sát từ bất kỳ hướng nào hoặc trên mặt phẳng. Những hình ảnh này giúp xác định phạm vi của khối và liệu ung thư đã di căn đến những hạch bạch huyết lân cận chưa.
•    Siêu âm. Kỹ thuật hình ảnh này không sử dụng tia bức xạ. Thay vì đó, nó kết hợp sóng siêu âm tần số cao và các quá trình xử lý trong máy tính. Siêu âm đặc biệt tốt cho việc cung cấp thông tin về hình dạng, kết cấu và bản chất của u và nang. Khi bạn thư giãn trên giường hoặc bàn khám, một dụng cụ giống như gậy (bộ chuyển đổi) được đặt bên cạnh đầu của bạn. Nó phát ra những sóng âm thanh không thể nghe thấy được mà phản hồi trở lại bộ chuyển đổi (tương tự như hệ thống định vị vật dưới nước bằng âm hoặc siêu âm). Những sóng âm thanh phản hồi đó sau đó được chuyển thành những hình ảnh chuyển động nhờ máy tính.
Nhiều ung thư miệng và họng không xác định được cho đến khi chúng tiến triển muộn. Khi xác định được sớm, ung thư tế bào vảy thường có thể được điều trị thành công.
Điều trị
Bác sĩ dùng biện pháp phẫu thuật và tia xạ để điều trị ung thư miệng và họng ở giai đoạn sớm. Với ung thư ở giai đoạn tiến triển muộn, bác sĩ dùng phẫu thuật kết hợp với xạ trị hoặc xạ trị kết hợp với hoá trị.
Kế hoạch điều trị của bạn nên được xây dựng cho riêng bạn dựa trên nhiều yếu tố bởi một nhóm các bác sĩ bao gồm phẫu thuật viên, bác sĩ ung thư nội khoa và bác sĩ xạ trị. Những lựa chọn điều trị bao gồm:
•    Phẫu thuật. Loại phẫu thuật mà bạn có thể cần phụ thuộc vào kích thước và vị trí của khối u. Bác sĩ có thể phẫu thuật cắt bỏ u mà không tác động tới các mô xung quanh gây ra một vài tác dụng phụ. Tuy nhiên, nếu u đã xâm lấn mô xung quanh thì phẫu thuật mở rộng. Thỉnh thoảng phẫu thuật viên cần lấy bỏ mô xương từ hàm hoặc trần miệng. Để điều trị ung thư lưỡi và phần trên của họng, phẫu thuật viên có thể cần lấy bỏ mô mà bạn dùng để nuốt và một vài trường hợp là thanh quản. Nếu ung thư lan tràn ra bên ngoài miệng, phẫu thuật viên cũng có thể cần lấy bỏ hạch bạch huyết trong cổ. Bạn không thể có bất kỳ tác dụng phụ nào khi lấy bỏ u nhỏ trong miệng. Tuy nhiên, phẫu thuật mở rộng có thể đòi hỏi những sự điều chỉnh lớn khi bạn nhai, nuốt, thở và nói. Bạn có thể cần những thiết bị giả trong miệng để phục hồi lại những phần đã lấy bỏ của răng, lợi và hàm. Trong những trường hợp bệnh tiến triển muộn, bạn có thể cần ống để ăn và thở và một thiết bị tạo giọng nói nhân tạo.
•    Xạ trị. Xạ trị dùng tia X để tiêu diệt tế bào ung thư. Bác sĩ có thể chỉ sử dụng biện pháp này để điều trị u nhỏ hoặc kết hợp với hoá chất để điều trị u lớn. Xạ trị cũng có thể dùng cùng với phẫu thuật để phá huỷ một lượng nhỏ tế bào ung thư mà bác sĩ không thể lấy bỏ trong suốt quá trình phẫu thuật.
•    Hoá trị. Hoá trị dùng thuốc để phá huỷ tế bào ung thư. Bạn có thể dùng những thuốc này qua đường tĩnh mạch hoặc đường uống. Loại thuốc và thời gian điều trị phụ thuộc vào kích thước của u. Trong trường hợp u lớn và xâm lấn, hoá trị có thể dùng kết hợp với xạ trị và tại vị trí phẫu thuật.
•    Thuốc ức chế sự hình thành mạch. Cetuximab (Erbitux) là thuốc ngăn chặn sự phát triển của các mạch máu mới cần cho sự phát triển của ung thư. Thuốc này gần đây đã được cho phép dùng cùng với hoá chất trong điều trị ung thư khoang miệng.
Sự bình phục và phục hồi chức năng
Tiếp theo phẫu thuật lấy bỏ u rộng rãi, phẫu thuật tạo lại cấu trúc hoặc sửa chữa bệnh lý thanh học có thể thúc đẩy sự bình phục và phục hồi chức năng.
•    Phẫu thuật tái tạo lại cấu trúc. Mục đích của phẫu thuật tái tạo lại cấu trúc là cải thiện hình ảnh của bạn và giúp bạn điều chỉnh những khó khăn về vấn đề nhai, nuốt, nói và thở. Đôi khi bạn sẽ cần ghép da và mô từ các phần khác của cơ thể để tạo lại những vùng trong miệng, họng hoặc hàm. Bạn cũng có thể cần cấy ghép răng giả để thay thế cho phần hàm đã bị lấy bỏ trong phẫu thuật. Nếu bạn đã có phẫu thuật rộng rãi ở cổ, bạn cũng có thể trải qua phẫu thuật tạo một lỗ thủng ở cổ (mở khí quản) để giúp bạn thở dễ dàng hơn. Nếu phần cơ cần cho việc nhai của bạn bị lấy bỏ, bạn sẽ cần phẫu thuật tạo một lỗ trong ổ bụng (mở thông dạ dày) để đưa trực tiếp thức ăn vào trong dạ dày qua một ống nuôi dưỡng.
•    Phục hồi chức năng. Việc điều chỉnh cuộc sống sau phẫu thuật có thể cần sự giúp đỡ của các bác sĩ thanh học và bác sĩ dinh dưỡng. Bác sĩ thanh học có thể giúp bạn vượt qua những khó khăn về nói và nuốt. Nếu bạn mất khả năng nói, bạn có thể học nói bằng cách bắt buộc luồng không khí đi qua trên thực quản (nói thực quản). Thiết bị nhân tạo cũng có khả năng giúp bạn nói hoặc nói to hơn. Bác sĩ dinh dưỡng có thể giúp bạn lựa chọn thức ăn thích hợp cho bạn nếu bạn mất một phần khả năng nhai và nuốt. Bạn có thể học hỏi được những điều có lợi từ những buổi họp với bác sĩ vật lý trị liệu và bác sĩ nghề nghiệp để giúp bạn tạo được những  điều chỉnh trong cuộc sống cá nhân và công việc.
Phòng bệnh
Thuốc lá và rượu là những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất đối với ung thư miệng và họng. Bạn có thể giảm được nhiều nguy cơ bằng việc không hút thuốc và giới hạn lượng rượu mà bạn uống. Những bước khác bạn có thể làm để phòng ngừa ung thư miệng và họng hoặc sự tiến triển của nó bao gồm:
•    Sử dụng răng giả được gắn tốt. Nếu bạn mang răng giả, hãy chắc chắn là chúng được gắn hoàn hảo và được ngâm và rửa sạch. Sự kích thích ở miệng có thể tăng nguy cơ ung thư miệng.
•    Không cắn vào mô bên trong miệng (mặt trong má). Làm như thế sẽ kích thích mô trong miệng. Điều này có thể xảy ra trong lúc ngủ, cùng với việc nghiến răng (bệnh nghiến răng trong lúc ngủ). Hãy nói với bác sĩ nha khoa của bạn nếu điều này là khó khăn đối với bạn.
•    Hạn chế phơi nhiễm với ánh nắng mặt trời. Tia cực tím gây tổn thương da trên môi và tăng nguy cơ ung thư miệng. Khi bạn ra ngoài nắng, dùng kem dưỡng môi có chứa chất chống nắng và đội mũ rộng vành để bảo vệ mặt và môi.
•    Kiểm tra miệng và lưỡi định kỳ. Đứng trước gương, dùng ngón tay trỏ và ngón cái kéo bề mặt của mô ra ngoài để quan sát tốt và sờ được mô bên trong môi, má và bất kỳ nơi nào trong miệng, đặc biệt là mặt dưới lưỡi. Tìm kiếm những khối sùi hoặc những thay đổi về màu sắc. Dùng ngón cái và các ngón tay khác để kiểm tra những khối và các điểm mềm, dễ bị tổn thương. Nếu bạn thấy có sự thay đổi, hãy nói với bác sĩ nha khoa hoặc bác sĩ chuyên khoa. Ung thư miệng và họng có thể được điều trị thành công, nhưng sự thành công phụ thuộc vào việc phát hiện sớm.
•    Khám nha khoa 2 năm một lần. Hầu hết các bác sĩ nha khoa tiến hành kiểm tra toàn bộ miệng của bạn trong mỗi lần khám. Các bác sĩ tiến hành quan sát trực tiếp cũng như gián tiếp các mô trong miệng.
•    Ăn chế độ ăn giàu dinh dưỡng. Cố gắng đảm bảo ăn 5 lần quả và rau hàng ngày. Chế độ ăn nghèo nàn có liên quan đến ung thư miệng và các loại ung thư khác.
Những kỹ năng cần tham khảo
Chẩn đoán ung thư có thể đặt ra thách thức rất lớn. Hãy nhớ rằng không có vấn đề gì với sự lo lắng hoặc chẩn đoán, bạn không đơn độc. Đây là một vài chiến lược và nguồn lực mà có thể giúp bạn đối diện với ung thư dễ dàng hơn:
•    Biết những gì đang mong chờ. Tìm hiểu tất cả mọi điều mà bạn có thể tìm được về bệnh ung thư của bạn - loại bệnh, giai đoạn, khả năng điều trị và những tác dụng phụ của điều trị. Bạn biết càng nhiều thì bạn tự chăm sóc mình càng tốt. Hãy nói với bác sĩ của bạn, tìm kiếm thông tin ở thư viện địa phương hoặc trên mạng.
•    Hãy đi tiên phong. Mặc dù bạn cảm thấy mệt mỏi và không được phấn khởi, đừng kéo theo những người khác- bao gồm gia đình và bác sỹ của bạn- tạo những quyết định quan trọng của bạn. Thật là đầy nghị lực khi bạn nhận vai trò hành động trong việc điều trị của mình.
•    Duy trì hệ thống người ủng hộ bền vững. Có một hệ thống ủng hộ có thể giúp bạn đương đầu với bất kỳ mọi khó khăn, đau đớn và lo âu có thể xảy ra. Mặc dù bạn bè và gia đình có thể là những đồng minh tốt nhất, đôi khi họ có thể có cách cư xử lo lắng với bệnh của bạn. Nếu thế, sự quan tâm và thông cảm của một nhóm ủng hộ chính thức hoặc những nhóm khác trong việc đối phó với ung thư có thể đặc biệt hữu ích. Mặc dù những nhóm ủng hộ không có cho tất cả mọi người, họ có thể là nguồn tốt cung cấp cho bạn những thông tin thực tiễn. Bạn cũng có thể phát triển những mối quan hệ bền vững và lâu dài với những người đang trải qua hoàn cảnh giống bạn.
•    Đặt ra những mục đích hợp lý. Có mục đích có thể giúp bạn kiểm soát được và đưa ra cho bạn những mục tiêu thông minh. Nhưng đừng lựa chọn mục đích mà bạn không thể hướng tới. Ví dụ, bạn không thể làm việc 40 giờ một tuần, nhưng bạn có thể làm việc ít nhất là một nửa thời gian. Thực tế, nhiều người thấy rằng tiếp tục làm việc có thể hữu ích.
•    Có thời gian của riêng bạn. Ăn tốt, thư giãn và nghỉ ngơi đủ có thể giúp bạn chiến đấu với căng thẳng và mệt mỏi của ung thư. Cũng như vậy, những kế hoạch phía trước cho thời gian rỗi, khi bạn có thể cần nghỉ ngơi nhiều hơn và làm việc có giới hạn.
•    Nghỉ ngơi tích cực. Khi nhận chẩn đoán ung thư không có nghĩa phải dừng tất cả những gì bạn thích và thường làm. Với hầu hết các vấn đề, nếu bạn cảm thấy đủ khỏe để làm, hãy tiến lên và làm nó. Điều quan trọng là nghỉ ngơi nhiều trong khả năng của bạn.
•    Hãy tìm kiếm sự liên kết với một cái gì đó bên ngoài bạn. Có niềm tin vững chắc và cảm giác về một cái gì đó mạnh hơn bạn có thể giúp bạn đương đầu thành công với ung thư.

Tuyến tiền liệt là một bộ phận của cơ thể nam giới và có nhiệm vụ sản xuất ra tinh dịch. Thông thường tuyến tiền liệt có kích cỡ bằng khoảng một quả mận. Thế nào là ung thư tuyến tiền liệt?

Ung thư tuyến tiền liệt là hiện tượng các tế bào dị thường phát triển, xâm lấn các tế bào bình thường. Ung thư tuyến liệt có thể di căn (phát triển nhanh chóng và lan rộng tới nhiều nơi khác nhau trên cơ thể). Tuy nhiên, ở những trường hợp bệnh tiến triển chậm (không có triệu chứng điển hình), người bệnh có thể sống lâu như những người đàn ông không bị ung thư.

Người nào có nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt?

Ung thư tuyến tiền liệt là loại ung thư phổ biến nhất tại Mỹ, hơn cả bệnh ung thư da. Hiệp Hội Ung thư Mỹ ước tính có khoảng 37.000 nam giới tử vong vì căn bệnh này. Mặc dù nam giới ở bất cứ độ tuổi nào cũng có thể bị ung thư tuyến tiền liệt nhưng chủ yếu vẫn là đối tượng tuổi ngoài 65. Những nam giới sống trong gia đình có tiền sử bị mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt (bố hoặc anh/em trai bị bệnh) cũng có nguy cơ cao hơn bình thường.

Dấu hiệu ung thư tuyến tiền liệt:

Hãy gặp bác sĩ ngay nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào sau đây:

Rất khó khi bắt đầu đi tiểu

Khi đi tiểu rất khó thành dòng (bị ngắt quãng)

Chảy giọt nhỏ sau khi đi tiểu xong

Đi tiểu nhiều lần

Có lẫn máu hoặc mủ trong nước tiểu

Có cảm giác đau hay nóng rát trong khi đi tiểu

Đau khi xuất tinh

Hông hoặc lưng không giữ được lâu

Có nên đi khám?

Trên thực tế, có nhiều trường hợp ung thư tuyến tiền liệt không dẫn đến nhiều rắc rối hay rút ngắn tuổi thọ nên nam giới thường chủ quan với căn bệnh này.

Tuy nhiên, khi có các dấu hiệu nghi ngờ, bạn vẫn nên đi khám. Bác sĩ sẽ dùng biện pháp kiểm tra trực tràng bằng tay hoặc xét nghiệm máu để xác định tình trạng bệnh.

Nếu có bệnh, bác sĩ sẽ giúp bạn theo dõi sự tiến triển của bệnh. Và rất có thể, bạn sẽ may mắn nằm trong nhóm bệnh ung thư phát triển chậm (3/4 trường hợp là vô hại). Tức là không điều trị điển hình vẫn có thể sống khỏe mạnh như những người không bị mắc bệnh. Nếu buộc phải phẫu thuật, bức xạ hay điều trị bằng thuốc... thì bạn cũng sẽ nhanh khỏe do bệnh được phát hiện sớm.



Ung thư đại - trực tràng diễn biến âm thầm

Ung thư đại trực tràng là căn bệnh liên quan đến thói quen ăn uống, thường gặp ở những người hay mắc táo bón do ăn ít chất xơ. Ở Việt Nam, căn bệnh này nằm trong số 5 bệnh ung thư có số người mắc cao nhất. Dự đoán trong vài năm tới, số người mắc sẽ còn tăng nhanh do lối ăn fast-food ngày một thịnh hành. Theo tính toán, trong tổng số người tử vong do ung thư tại Mỹ thì có tới 60% do ung thư đại trực tràng.

Đại tràng chia thành 4 đoạn. Ung thư có thể khởi phát từ bất cứ đoạn nào trên đại tràng hoặc trực tràng. Ung thư xuất phát từ lớp trong cùng của thành ruột (niêm mạc đại - trực tràng) sau đó xâm lấn ra phía ngoài qua các lớp khác của thành ruột. Ung thư ở mỗi vị trí trên khung đại tràng sẽ biểu hiện các triệu chứng khác nhau, thông thường nhất là có máu trong phân. Trong đa số các trường hợp, ung thư đại - trực tràng phát triển âm thầm trong nhiều năm.

Ngày nay người ta biết ung thư khởi đầu bằng một tổn thương gọi là pô-líp, 5 đến 10 hay 25 năm sau, pô-líp trở thành ung thư. Cắt bỏ pô-líp sớm là cách phòng ngừa ung thư hữu hiệu nhất. 

Trên 95% các ung thư đại - trực tràng là loại ung thư tế bào tuyến (adenocarcinoma). Loại ung thư này bắt nguồn từ tế bào của niêm mạc ruột già. Thống kê cho thấy ung thư đại - trực tràng là loại ung thư đứng hàng thứ 3 trong các bệnh ung thư của người Việt Nam. 

Triệu chứng

Ở giai đoạn sớm, triệu chứng bệnh thường không rõ, nhiều khi người bệnh chỉ bị đau bụng nhẹ cũng có khi bị trướng hoặc đầy, đau tức bụng trước hoặc sau khi ăn. Triệu chứng thường gặp và có giá trị chẩn đoán là đi ngoài ra máu, nhất là những người ở tuổi 40-50. Tuổi này thường bị rối loạn đại tiện, có ngày bị táo bón, có ngày lại bị đi lỏng kiểu tiêu chảy. 

Chảy máu của ung thư đại tràng rất ít và "kín đáo" nhưng nếu kéo dài, người bệnh sẽ bị thiếu máu, cảm thấy mệt mỏi, khó thở. Theo khuyến cáo mới của Hội ung thư Mỹ, muốn phát hiện sớm ung thư, cần thử phân xem có chảy máu kín đáo không. Đây là triệu chứng sớm giúp chẩn đoán bệnh. 

Điều trị

Trên thực tế, chưa có loại thuốc nào kể cả Tây y và Đông y được công nhận là có tác dụng với bệnh này. Tỷ lệ sống được 5 năm sau mổ là 90% nếu ung thư còn trong lòng ruột, 50% nếu ung thư đă ăn qua thành ruột, chưa ăn vào hạch, còn 30% khi u đã ăn vào hạch và 10% nếu đã di căn vào tạng. 

Những trường hợp không nên mổ: tuổi đời quá cao, hơn 80-90 tuổi; sức khỏe suy sụp, quá yếu; có những bệnh lý tim, phổi hoặc gan; ung thư đã di căn tới một số cơ quan khác, có di căn hoặc cổ trướng.

Cảnh báo

3 phương pháp hiện nay được áp dụng trong điều trị ung thư là phẫu thuật, hóa trị và xạ trị. Tuy nhiên, đối với đối tượng nam giới, sau khi điều trị các phương pháp này thường dễ dẫn đến rối loạn tình dục, nặng hơn thì liệt dương hoặc xuất tinh ngược chiều vào bàng quang. Do đó, lời khuyên của các chuyên gia y tế thì trước khi điều trị ung thư đại - trực tràng là nên gửi tinh trùng vào ngân hàng trước khi bước vào phẫu thuật.

GS.TS Đỗ Đức Vân, bệnh viện Việt Đức khuyên rằng, đối với những người ngoài 40 tuổi trở lên, hễ chỉ cần có triệu chứng thiếu máu, hoa mắt chóng mặt và rối loạn đường tiêu hóa thì ngay lập tức hãy nghĩ đến ung thư dạ dày để làm các xét nghiệm, trong đó có kiểm tra bằng kỹ thuật nội soi tại những bệnh viện lớn.

Để không mắc ung thư đại - trực tràng

Khẩu phần ăn: Loại bỏ trong khẩu phần ăn uống những thức ăn chứa nhiều mỡ, nhất là mỡ động vật, rượu. Tăng cường các loại thực phẩm nhiều xơ và giàu canxi.

Vận động: Những người ngồi một chỗ hoặc béo phì dễ bị mắc bệnh ung thư đại - trực tràng.

Hút thuốc lá: Hầu như ai cũng biết hút thuốc lá dễ bị ung thư phổi. Nghiên cứu gần đây cho thấy người hút thuốc lá còn chết vì ung thư đại - trực tràng nhiều hơn người không hút 30-40%. Tổ chức phòng chống ung thư quốc tế cảnh báo, mỗi điếu thuốc được đốt cháy sẽ lên đến nhiệt độ 950oC và sinh ra 3.800 chất hóa học. Hút thuốc lá còn làm tăng nguy cơ mắc nhiều loại ung thư khác.

Phòng tránh: Hiệp hội Ung thư Mỹ khuyến cáo nên dùng thực phẩm có nguồn gốc thực vật, nên ăn trái cây và rau cải mỗi ngày cùng với hạn chế dùng thức ăn nhiều mỡ.

Một số nghiên cứu cho thấy hàng ngày dùng nhiều vitamin chứa axít folic và canxi có thể giúp giảm nguy cơ mắc ung thư đại - trực tràng. Bên cạnh đó, việc vận động thường xuyên là phương pháp rẻ nhất và hiệu quả giúp giảm nguy cơ mắc căn bệnh này.

Ung thư gan - những điều cần biết

Các loại ung thư gan:

Ung thư tế bào gan nguyên phát:

Trên 80% ung thư gan là ung thư tế bào gan nguyên phát, ung thư này xảy ra ở nam gấp đôi nữ và thường gặp ở tuổi trên 50 . Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) bắt đầu xảy ra từ tế bào gan. Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân HCC nhưng viêm gan do siêu vi mãn tính, xơ gan là yếu tố nguy cơ HCC. Xơ gan chiếm 80% truờng hợp HCC. Dạng khác của ung thư gan là ung thư đường mật. Đây là ung thư xuất phát từ ống dẫn mật và nguyên nhân là do viêm xơ chai đường mật nguyên phát.Ung thư đường mật có thể do nhiễm ký sinh trùng , chẳng hạn như sán lá nhỏ. Ung thư này phát triển theo đường dẫn mật , rất khó thấy trên phim X quang.

Ung thư di căn gan:

Ung thư xuất phát từ tế bào của các phần khác của cơ thể lan đến gan . Ung thư di căn gan có thể từ: ung thư đường tiêu hóa, vú , phổi, ung thư tủy…..Tùy theo cơ quan nào di căn đến gan mà gọi tên , ví dụ từ ung thư phổi thì gọi là ung thư gan thứ phát do di căn từ ung thư phổi.

Triệu chứng của ung thư gan?

Triệu chứng của ung thư gan gồm: mệt , sốt , đau bụng, sụt cân không rõ nguyên nhân, ăn không ngon , dễ chảy máu hay dễ có vết bầm, vàng da, báng bụng.

Ung thư gan được chẩn đoán như thế nào?

Ung thư gan có thể được phát hiện qua cuộc kiểm tra sức khỏe định kỳ. Bác sĩ có thể sờ thấy khối u lớn và cứng trong bụng.
Xét nghiệm máu AFP (alpha fetoprotein). 50---70% người ung thư gan có AFP trong máu cao. AFP cao có thể nghĩ đến ung thư gan nhưng không thể là yếu tố quyết định chắc chắn. Sau khi thấy AFP cao nên làm siêu âm , chụp cắt lớp điện toán (CT) , chụp cộng hưởng từ (MRI), chúng ta sẽ thấy khối u , tuy nhiên chưa xác định chắc chắn u lành tính hay ác tính. Để chẩn đoán chính xác lành hay ác ,phải sinh thiết gan .

Nguyên nhân gây ung thư gan

Người ta chưa biết chính xác nguyên nhân ung thư gan . Tuy nhiên có nhiều yếu tố thuận lợi giúp phát triển ung thư gan, bao gom cả tuổi, phái tính, gia đình. Phái nam bị ung thư nhiều hơn nữ và tỉ lệ tăng dần sau 60 . Những người trong gia đình có nhiều người bị ung thư gan cũng dễ có nguy cơ phát triển ung thư gan.

*Những yếu tố nguy cơ:

- Nhiễm virus viêm gan B , C mãn tính: gây nên viêm gan , xơ gan và phát triển thành ung thư gan. Khoảng 25% những người u gan ở Mỹ có nhiễm siêu vi B. Những người có nguy cơ nhiễm siêu vi C nên được xét nghiệm máu để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời , như vậy giúp ngăn ngừa xơ gan và nguy cơ ung thư gan.
- Xơ gan: nguy cơ đưa đến ung thư gan rất lớn. Hơn 80% trường hợp u gan có xơ gan .Uống rượu là nguyên nhân dẫn đến xơ gan nhiều ở Mỹ.
- Bệnh gan ứ sắt: Sự quá tải sắt ở gan. Đây là bệnh di truyền gây rối loạn chuyển hóa sắt. Sự quá tải sắt gây độc cho cơ thể đặc biệt ở gan , gây viêm và chết tế bào gan. Điều này dẫn đến xơ gan và nguy cơ rất cao đưa đến ung thư gan.
- Hút thuốc: đây cũng là yếu tố nguy cơ ung thư gan. Trong khi mối liên quan giữa thuốc lá và ung thư gan chưa được biết rõ ràng , Tổ chức gan mật Hoa Kỳ khuyên mọi người nên ngừng hút thuốc . Lượng thuốc hút mỗi ngày càng nhiều , thời gian hút thuốc càng lâu càng làm tăng nguy cơ ung thư gan.
- Một số hóa chất có nguy cơ gây ung thư gan: vinyl chloride dùng chế plastic, arsenic nhiễm trong nước uống…….
- Lạm dụng thuốc steroid thường xuyên cũng là yếu tố nguy cơ

Tiên lượng cho bệnh nhân ung thư gan?
Tiên lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm yếu tố khối u có được chẩn đoán sớm không? Nếu khối u nhỏ có thể điều trị bằng phẫu thuật, tuy nhiên tỉ lệ thành công của phẫu thuật 10----20% . Nếu phẫu thuật không thành công bệnh nhân tử vong trong vòng 3 đến 6 tháng . Tiên lượng ung thư di căn gan rất xấu.

Ung thư gan được điều trị như thế nào?
Điều trị ung thư gan rất khó khăn . Triệu chứng ung thư gan thì khó nhận biết chỉ đến khi khối u phát triển nhiều , vì vậy việc phát hiện thường là trễ. Những yếu tố nguy cơ khác như xơ gan , làm cho việc điều trị phẫu thuật khó khăn.
Phẫu thuật có thể cắt bỏ khối u nhỏ , nếu cả khối u được cắt bỏ , khả năng sống còn của bệnh nhân 25%. Tuy nhiên thưiờng rất hiếm thành công vì thường phần lớn gan đã bị xơ.
Ghép gan thì có thể , tuy nhiên nếu ung thư đã di căn thì không thể áp dụng được.
Hóa trị và xạ trị thì hiệu quả rất hạn chế 
Một kỹ thuật mới (SIRT) phướng pháp dùng tia xạ chọn lọc với tần số cao đánh trực tiếp vào khối u mà không làm tổn thương mô xung quanh . Thử nghiệm lâm sàng cho thấy SIRT có thể cải thiện triệu chứng và kéo dài sự sống cho bệnh nhân.
Kỹ thuật đông lạnh bằng hóa chất : dùng catheter bơm hóa chất và thuốc doxorubicin vào khối u cũng hứa hẹn nhiều thành công tốt đẹp.

Ung thư gan có thể được ngăn ngừa?
Phòng bệnh là phương pháp tốt nhất chống ung thư gan. Phải nỗ lực làm giảm xơ gan , phát hiện sớm và điều trị viêm gan siêu vi mãn tính. Các thuốc điều trị viêm gan virus mãn tính , thuốc chống siêu vi cũng có thể làm giảm tỉ lệ ung thư gan.

Vaccin chống siêu vi A , B rất cần thiết , đặc biệt với người viêm gan C . Không nên uống rượu. Phải khám sức khỏe định kỳ những người có nguy cơ nhằm phát hiện ung thư gan sớm.

Dấu hiệu của bệnh ung thư phổi

- Ho: Thường ho dai dẳng , ho là một phản ứng của niêm mạc phế quản đối với sự phát triển của khối u ở phế quản càng lớn ho càng rõ rệt.

- Sốt nhẹ: sau khi khối u làm tắc phế quản sẽ tồn tại hiện tượng lá phổi bị tắc, gây ra các biểu hiện ở các mức độ khác nhau, nhẹ thì sốt nhẹ, còn nặng thì sẽ sốt cao.

- Đau ngực : ở giai đoạn đầu thì có biểu hiện hơi đau ngực, chủ yếu biểu hiện là đau âm ỉ va đau tức, đau ở các chỗ khác nhau thì khó xác định được có liên quan thế nào với hô hấp.

- Đờm có máu: chứng viêm của khối u dẫn đến hoại tử, đường máu nhỏ khi bị tồn thương sẽ có một ít máu, rồi máu đó hòa lẫn với đờm và sẽ xuất hiện thành từng đợt hoặc liên tục.

Dấu hiệu của ung thư phổi giai đoạn cuối

- Thấy đau ngực: đây là biểu hiện thường xuất hiện vào giai đoạn cuối, đại đa số những bệnh nhân ung thư phổi mà đã lan ra các bộ phận phần ngực thì thường có triệu chứng đau ngực.

- Khàn giọng: Khối u xâm nhập vào bên trái màng liên kết phủ tạng, thần kinh quặt ngược bị chèn ép làm cho giọng bị khàn.

- Mặt bị phù, cổ bị bạnh to: khối u chèn ép vào tĩnh mạch chủ trên, ban đầu sẽ làm cho việc lưu thông ở tĩnh mạch gặp khó khăn làm cho mặt bì phù và cổ bạnh ra.

- Thở nhanh và tràn màng dịch phổi: thở nhanh và tràn màng dịch phổi cũng là biểu hiện của ung thư phổi giai đoạn cuối.

Điều trị

Phẫu thuật

Chỉ định: Ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn O, I, II, IIIA.

Phương pháp: Cắt bỏ toàn bộ tổ chức ung thư phổi bao gồm cả cắt bỏ các hạch bạch huyết lân cận.

Điều trị bằng tia xạ

Chỉ định

- Tia xạ trước phẫu thuật: cho giai đoạn IIIB, kích thước u quá lớn để xét khả năng phẫu thuật sau đó.

- Tia xạ sau phẫu thuật: cho giai đoạn II, IIIA và các trường hợp phẫu thuật cắt bỏ không hoàn toàn để lại tổ chức ung thư sau phẫu thuật.

- Tia xạ đơn thuần triệt căn: cho giai đoạn I, II, IIIA có chống chỉ định hoặc người bệnh từ chối phẫu thuật, hoá chất.

- Tia xạ triệu chứng: xạ trị giảm đau, xạ trị toàn não, xạ trị chống chèn ép.

Kỹ thuật

- Xạ trị bằng máy gia tốc tuyến tính LINAC. Hình ảnh được mô phỏng trên CT hoặc tốt nhất là PET/CT.

 

Điều trị bằng hoá chất

Chỉ định: Khi bệnh muộn (giai đoạn IV, IIIB, IIIA),các trường hợp chống chỉ định hoặc người bệnh từ chối phẫu thuật, tia xạ.

Phương pháp: Điều trị hoá chất đơn thuần hoặc kết hợp với các phương pháp khác.

 

PHẢN HỒI

HOẠT ĐỘNG

Kỷ niệm ngày Phụ nữ Việt Nam 20.10.2012 đồng thời góp phần thay đổi nhận thức của phụ nữ Việt Nam về bệnh ung thư vú, Cty PGM và Cty Sen Vàng tổ chức chương trình tầm soát ung thư vú miễn phí cho phụ nữ với sự tài trợ của Trung tâm ung bướu và y học hạt nhân bệnh viện Nhân Dân 115 cùng Nhãn hàng viên dưỡng da Hoa Thiên – Cty CPDP Hoa Thiên Phú.

ĐỐI TÁC CHUYÊN MÔN